Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham luận. Hiển thị tất cả bài đăng

20/12/14

THAM LUẬN : THUẬT DÙNG NGƯỜI VÀ CÁCH SỬ DỤNG NGƯỜI TRONG QUẢN TRỊ KINH DOANH


THAM LUẬN

THUẬT DÙNG NGƯỜI VÀ CÁCH SỬ DỤNG NGƯỜI TRONG QUẢN TRỊ KINH DOANH.




HUY THANH

A- THẾ NÀO LÀ THUẬT DÙNG NGƯỜI? 

Trong xã hội, con người không thể sống đơn lẻ mà phải sống cộng đồng, làm việc một cách cộng sinh thì mới làm được nhiều công việc một lúc hỗ trợ cho nhau để thỏa mãn nhu cầu đời sống lẫn nhau. Con người cần nương nhau để tồn tại. Xã hội loài người thường được tổ chức thành từng Nhóm Đơn Hợp hay Phức Hợp ( Đa hợp ). Mỗi Nhóm thường có một, hay nhiều người đứng đầu gọi là người Lãnh đạo hay tập đoàn Lãnh Đạo.  Nhóm hay người Lãnh đạo có nhiệm vụ soạn thảo kế hoạch, phân công, chỉ đạo việc thực hiện sao cho kết quả công việc được tối ưu cho cộng đồng mình đang chỉ huy, mang lại vật chất, tinh thần tốt đẹp cho đoàn thể.. Nhóm " Đơn Hợp " nhỏ nhất trong cộng đồng loài người là gia đình, ngoài ra còn có các nhóm cộng đồng khác như Công ty, Xí nghiệp, các Đơn vi hành chánh sự nghiệp như ấp, xã, phường, quân, huyện, tỉnh, thành phố ,,v,,v.. Nhóm "Phức Hợp " là dân tộc của một quốc gia, hay nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tập đoàn không cùng một mầu da hay tiếng nói v..v.. .
Những người Lãnh Đạo hay tập Đoàn Lãnh Đạo các nhóm có quyền phân phối công việc cho tùng người tuỳ theo khả năng của họ, cốt sao cho hiệu quả công việc được trôi chảy, thành công mỹ mãn .Muốn cho công việc được kết quả như ý muốn, người lãnh đạo hay nhóm lãnh đạo phải biết khả năng, kỹ năng của từng người để phân công việc cho họ hợp lý hầu được hiệu quả như ý muốn. Sự tính toán, phân công đó cốt lỏi là phải hợp lý, đúng với khả năng từng người và khởi động thế nào để họ phát huy khả năng đó một cách toàn diện chính là Thuật Dùng Người.
.

29/8/14

THAM LUẬN: BÙI GIÁNG NHÀ THƠ ĐIÊN GIỮA CÕI ĐỜI HƯ THỰC

THAM LUẬN: BÙI GIÁNG NHÀ THƠ ĐIÊN
GIỮA CÕI ĐỜI HƯ THỰC


HUY THANH

Tôi gặp nhà thơ Bùi Giáng được ba lần, lần thứ nhất vào giữa năm 1974 tại khuôn viên trường Đại Học Vạn Hạnh ở đường Trương Minh Giảng ( nay là trường Sư Phạm đường Nguyễn văn Trổi ) khi tôi theo người cậu là nhạc sĩ Anh Việt Thu đi trình diễn buổi récital piano classique theo lời mời cuả Ban Đại Diện Sinh Viên Trường. (lúc đó nhân ngày lễ tốt nghiệp phát bằng Cử Nhân cho sinh viên ra trường)



26/6/14

THAM LUẬN: KHÁI NIỆM VỀ TỰ DO DÂN CHỦ

THAM LUẬN:

KHÁI NIỆM VỀ TỰ DO DÂN CHỦ


HUY THANH

I -MỞ ĐẦU:

Khi con người ở chế độ nguyên thuỷ, cuộc sống còn sơ khai chưa có quần áo để mặc phải đóng khố bằng lá cây, nhà ở là những hạng động thiên nhiên có sẵn, họ sống cuộc đời du canh du cư thì sự tự do bình đẳng đồng nghĩa với mạnh ai nấy làm theo ý mình. Do đó, có khi việc làm của họ đụng chạm đến người khác sống trong cộng đông nên trong xã hội nguyên thủy đâm ra tranh đấu, làm rối ren, mất trật tự nguyên sơ tự nhiên.
Dần dần, ý thức sống quần cư, tập thể bắt đầu nảy sinh khi con người biết tụ tập sống thành bộ tộc, bộ lạc quần thể nên ý thức luật pháp bắt đầu hình thành để giữ vững trật tự trong cộng đồng. Muốn vậy phải có một người hay một tập đoàn đứng ra làm nhiệm vụ cai quản, giữ gìn, thực thi những luật pháp mà mọi người công nhận. Kèm theo đó cần phải có một lực lượng sức mạnh cưỡng chế để răn đe, đưa những kẻ phạm pháp vào khuôn phép của tập thể, đó chính là khái niệm luật pháp thời sơ khai.
Người đứng đầu tập đoàn đó trong thời kỳ tiền sử chính là Tù Trưởng hay Trưởng Tộc, Thời kỳ đầu nguyên thủy, sức mạnh răn đe chỉ dựa vào thần quyền hay tôn giáo. Người cầm đầu được thần thánh hóa, xem như họ là người của Trời  ( con trời ) ban xuống cai trị nhân dân nên chế độ chuyên chế phong kiến bắt đầu hình thành. Khi bắt đầu có Vua lãnh đạo đất nước họ gọi là Thiên Tử. Do độc đoán về quyền cai tri, nên Vua dần dần đi sai lầm đường lối của tập thể, làm theo ý muốn chủ quan mình,  nên ý thức cộng đồng trổi dậy, có những tư tưởng chống đối, đó là ý thức về Quyền Tự Do Dân Chủ của con người
.

31/5/14

THAM LUẬN: VÀI GHI NHẬN VỀ NHÀ VĂN NAM BÔ HỒ BIỂU CHÁNH

THAM LUẬN
VÀI GHI NHẬN VỀ NHÀ VĂN NAM BỘ HỒ BIỂU CHÁNH


HUY THANH

1-VÀI NÉT TIỂU SỬ NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH:

Nhà văn Hồ Biểu Chánh sinh ngày 01/10/1884 (1885?) tại tỉnh Gò Công miền Nam Việt Nam. Ông tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên. Khi viết văn, ông lấy tên tự ghép với họ thành là "Hồ Biểu Chánh". Ông theo học chữ Nho, sau đó là chữ Quốc Ngữ và sau cùng là chữ Pháp tại tỉnh Mỹ Tho Năm 17 tuổi ông lên Saigon học tại trường Chasseloup Laubat, đậu bằng Thành Chung năm 1905, sau đó ông làm việc tại Saigon và Bạc Liêu Ông xuất thân là thư ký thông ngôn, sau đó ông được thăng dần lên chức tri huyện, rồi tri phủ, làm viêc tại huyện Càn Long, Ô Môn, Phụng Hiệp. Năm 1936 ông thăng lên chức Đốc Phủ Sứ, sau đó một năm ông xin về hưu Năm 1946 ông lại được mời ra làm Nghị viên hội đồng đô thành Sàgòn và sao đó làm Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin (Cấp thứ trưởng) của thủ tướng Nguyễn văn Thinh. Ông nổi tiếng là ông quan thanh liêm, hay thương người nghèo khổ, tranh đấu cho giai cấp bần cùng trong xã hội. Cuối năm 1946, ông từ quan về hưu sống ẩn dật, hiến cuộc đời còn lại của mình cho sự nghiệp văn học.

20/5/14

THAM LUẬN: SỰ XÂM THỰC CỦA PHONG TRÀO VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN PHƯƠNG TÂY VÀO VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM THẾ KỶ XX

THAM LUẬN:
 
SỰ XÂM THỰC CỦA PHONG TRÀO VĂN CHƯƠNG  LÃNG MẠN PHƯƠNG TÂY
VÀO VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ XX NHƯ THẾ NÀO?

HUY THANH 

1-VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN PHƯƠNG TÂY:
 
Nghĩa đen của từ Lãng mạn: "Lãng" tức sóng nước, chỉ sự rộng lớn mênh mông; còn "Mạn" là sóng từng lớp tràn lên bờ, không bị hạn chế, bởi bất cứ vật cản nào. "Lãng Mạn" là sức sóng nước vỗ tràn lên bờ liên tục không ngừng, không bị ràng buộc gì, hết lớp nầy đến lớp khác. Tình cảm của con người trong văn chương như nước cuộn tràn như vậy, tự do bày tỏ, không hạn chế gì hết. Vào thế kỷ XX, ở Phương Tây triết lý La Mã, Hy Lạp đã lùi dần nhường chỗ cho những tư tưởng tự do bộc phát lan rộng như của John Loc, Montesquieu, J.J Roussau. Khuynh hướng của chủ nghĩa tự do lãng mạn nầy là con người phải sống cho chủ nghĩa cá nhân một cách tự do nhiều hơn cho cộng đồng. Phong trào văn chương lãng mạn là một hình thức trong trào lưu tư tưởng mới nầy, nó bộc phát trong văn chương nhiều hơn hết nên được gọi là văn chương lãng mạn.

8/5/14

NHÂN TRỊ HAY PHÁP TRỊ MỘT NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO ĐỂ CHẾ ĐỘ TỒN VONG

NHÂN TRỊ HAY PHÁP TRỊ
MỘT NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO
ĐỂ CHẾ ĐỘ TỒN VONG

HUY THANH
(Nguyên luật sư Tòa Thượng Thẩm Saigon )



    
     Hình LS HUY THANH


Sự phát triển cuả xã hội loài người thường được phân hoá thành hai từng lớp người khác biệt nhau: là giai cấp thống trị và giai cấp bị tri. Tầng lớp thống trị thường được gọi là Vua, Chúa, Quan Lại hay Lãnh Đạo, còn giai cấp bị trị được gọi là dân đen, thứ dân hay dân chúng. Giai cấp thống trị thường có trình độ hiểu biết cao, kiến thức sâu rộng, họ vạch ra những Kế Hoạch đường hướng phát triển của đất nước và chỉ huy việc thực hiện trong luật pháp gồm có Hiến Pháp và những điều luật. Còn giai cấp bị trị là những kẻ thi hành theo đường hướng đó. Tuy nhiên, không phải lúc nào giai cấp thống trị cũng đúng mà nhiều lúc còn sai gây tai hại cho giai cấp bị trị nên họ phải đứng lên lật đổ gọi là Cách Mạng. Lãnh đạo là một nghệ thuật quyền biến từ thực tế của hoàn cảnh để tìm những xu hướng phát triển tốt nhất cho phù hợp với nguyện vọng của nhân dân mà mình đang cai trị. Đó là cách hành xử Pháp Luật theo Pháp trị cứng ngắc hay Nhân Trị một cách linh hoạt có lý có tình. Trong lịch sử cổ kim, giai cấp lãnh đạo thường nổi lên từ cái đúng, nhưng dần dần họ lại rơi vào cái sai, cái lỗi thời lũy thoái mà không thấy, hay họ có thấy mà vì bị chói loà trong hào quang chiến thắng nên cố tình không cải cách khiến dân chúng bất mãn phải nổi lên chống đối. Sách binh pháp Tôn Tử có câu: " Biết Người, biết ta trăm trận trăm thắng "tức là ta phải biết thời thế, biết ta là ai,biết người là ai, để tìm một sách lược cho phù hợp với ta và người hầu cả hai đều đạt được mục đich cuối cùng cho nguyện vọng của mình. Trong lich sử cổ kim, có nhiều người lãnh đạo giỏi, nhưng họ lại chỉ biết ta mà không biết người nên có những hậu quả thất bại nặng nề, thậm chí còn bị thân bại danh liệt đến khi cuối đời . Ta thử trở về thời Xuân Thu -Chiến Quốc ( 479- 220 ) của lịch sử Trung Hoa, một nhân vật tôi thấy tiêu biểu cho chủ đề của Entry Pháp Trị nầy là Công tôn Ưởng thường gọi là Vệ Ưởng hay Thương Ưởng. Ông là một nhà cải cách chính trị lớn, nhìn xa, thấy rộng  nhưng vì quá tự phụ, cao ngạo tài của mình mà không biết người biết ta nên thất bại thảm hại đến nỗi thân bại danh liệt.

25/4/14

BÀN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG THƠ CA VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ 19



BÀN VỀ CUỘC CÁCH MẠNG THƠ CA VIỆT NAM VÀO THẾ KỶ 19
LUẬT THEO THƠ  HAY THƠ THEO LUẬT?



HUY THANH

Mở đầu:

Thơ là gì?:
Thơ là nghệ thuật dùng từ ngữ, âm điệu để chuyển tải những xúc cảm giữa người với người về một chủ đề nào đó gọi là sự đồng cảm. Thơ thường được diễn đạt từ hai câu trở lên hoặc nhiều câu (đơn hợp hoặc phức hợp). Trong một tổ hợp thơ (bài thơ) thường tác giả chuyển tải tình cảm đến người đọc bằng chủ đề bài tức tứ thơ, nhạc thơ, vần thơ và họa thơ. (thơ như vẽ)

21/2/14

THAM LUẬN: ĐỌC TRUYỆN NGẮN " ANH PHẢI SỐNG " CỦA KHÁI HƯNG

THAM LUẬN

ĐỌC  TRUYỆN  NGẮN:

ANH PHẢI SỐNG

CỦA KHÁI HƯNG


HUY THANH


1- VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN KHÁI HƯNG:

 Khái Hưng ( 1896- 1947) tên thật là Trần khánh Giư người xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Dương (Hải Phòng).. Bút hiệu KHÁI HƯNG là ông lấy chữ đầu của tên họ ráp vào. K (KHÁNH) H ( KHÁNH) Á (KHÁNH) I (GIƯ) H (KHÁI) Ư (GIƯ) N (TRẦN) G (GIƯ) một lối chơi chữ rất khéo của tác giả .
Khái Hưng từng học trường Albert Sarraut, ông đã đỗ bằng Thành Chung và Tú Tài 1, sau đó vào làm công chức nhà nước nhưng chán cảnh làm công bộc vì không đúng chí hướng của mình nên Khái Hưng nghỉ và xin chân day học ở trường tư thục Thăng Long tại Hà Nội. Nơi đây ( từ năm 1930- 1936 ) ông quen nhà văn Nhất Linh, cũng từ Pháp về, hai người cùng dạy một trường. Ý hợp tâm đầu, cả hai cùng thành lập nhóm "Tự Lực Văn Đoàn " chính thức ra mắt trên diễn đàn văn học từ năm 1933. Ban đầu có những cây viết nòng cốt như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, sau đó thêm nhiều nhà văn khác như Thạch Lam v..v..gia nhập nhóm
Từ đó, cặp bài trùng Nhất Linh, Khái Hưng thường viết chung những truyện ngắn, truyện dài theo khuynh hường cải cách xã hội bằng văn học, phê phán hiện tượng mê tín dị đoan, lề lối phong kiến hủ lậu Nho Giáo trong gia đình và ngoài xã hội. Những tác phẩm viết chung của họ rất nổi tiếng nên người ta thường gọi Khái Hưng là Nhị Linh mặc dù ông lớn hơn Nhất Linh 9 tuổi.
Những tác phẩm nổi tiếng của Khái Hưng là: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933), Trống Mái (1936), Nửa Chùng Xuân (1937) Tiêu Sơn Tráng Sĩ (truyện võ hiệp 1937) Tiếng Suối Reo ( 1940 ).
Những tác phẩm cùng viết chung với Nhất Linh là: Gánh hàng Hoa, Đời mưa gió, Anh phải sống,
Ông cũng đã có dịch một bài thơ nổi tiếng cuả Félix Arvers tựa là Tình tuyệt Vọng rất nổi tiếng như sau:

 Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
 Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
 Mà người gieo thảm như hầu không hay 


Khái Hưng mất năm 1947 trong một hoàn cảnh không rõ ràng.

5/2/14

THAM LUẬN: BÀI THƠ ĐƯỜNG "TÔN PHU NHÂN QUY THỤC " VÀ CUỘC TRANH BIỆN GIỮA TÔN THỌ TƯỜNG VÀ PHAN VĂN TRỊ

THAM LUẬN:

BÀI THƠ ĐƯỜNG "TÔN PHU NHÂN QUY THỤC " VÀ CUỘC TRANH BIỆN 
GIỮA TÔN THỌ TƯỜNG VÀ PHAN VĂN TRỊ .


HUY THANH

Tôn Thọ Tường và Phan văn Trị là hai danh sĩ, hai nhà thơ lớn của nước ta sống vào thế kỷ thứ 18,19 trong thời kỳ Pháp thuộc .Công bằng mà nói, theo tôi cả hai người đều có lý tưởng dân tộc , nhưng họ đã thể hiện bằng hai đường lối, hai cách khác nhau, thậm chí chống đối nhau như hai kẻ thù không đội trời chung . Lịch sử cận đại kết án Tôn thọ Tường theo giặc Pháp, một thứ Việt Gian thời đại , còn Phan văn Trị là chí sĩ yêu nước . Theo tôi quan điểm lịch sử cận đại có cái nhìn quá khe khắt về Tôn thọ Tường , bởi vì trong lịch sử không phải ai làm việc cho Pháp, cộng tác với Pháp đều là Việt Gian bán nước ,mà trái lại, đó cũng có thể là một biện pháp tạm thời ,cũng có một số trong họ sau nầy đã nổi lên chống Pháp ( như Đội Cấn ). Nếu Tôn thọ Tường là hạng người vong bản việt gian thì ông không dại gì mà làm những bài Thơ u uất , bày tỏ nỗi lòng của mình khi làm việc cho Pháp gởi đến các sĩ phu trước những đôi mắt của dò xét của mật thám Pháp. Biện chứng như thế nên tôi mạnh dạn viết những nhận định về Tôn Thọ Tường không phải là một lời biện hộ đúng sai , mà chỉ là một lời giải bày chua xót thay cho ông , một người của lịch sử mà không đặt đúng vào vị trí của lịch sử. Nói cách khác lời tôi phản biện cho ông có thể đi ngược lại quan điểm lịch sử cận đại vốn đã méo mó ít nhiều . Cũng có thể những nhà sử học trước đây cũng có cái nhìn về Tôn Thọ Tường như tôi nên lúc đó tại Sài Gòn có hai con đường Tôn thọ Tường và Phan văn Trị ở Sài Gòn .

26/1/14

THAM LUẬN: NHỮNG THÍCH KHÁCH NỔI TIẾNG THỜI XUÂN THU


THAM LUẬN


NHỮNG THÍCH KHÁCH NỔI TIẾNG THỜI XUÂN THU, CHIẾN QUỐC.

HUY THANH

Trong những cuộc chiến tranh giành quyền lực, đất đai, địa vi giữa các thế lực thời phong kiến với nhau trong lịch sử Trung Hoa, có một mặt trận thầm lặng nhưng đầy thử thách gian lao, đòi hỏi người chiến binh phải cùng sống chết với kẻ thù trong hang hùm nọc rắn của họ: đó là mặt trân Ám Sát, người thực hiện nhiệm vụ nầy được gọi là thích khách. Sở dĩ gọi họ là thích khách vì họ chính là những người khách được kẻ thù mời đến để thương lượng hay làm đàm phán một điều gì đó, rồi thừa cơ khách ra tay giết người chủ mời. Cách thực hiện mặt trận nầy là tập kích bất ngờ, tiêu diệt người cầm đầu, chỉ huy của kẻ địch để triệt hạ những kế sách, sách lược chỉ huy có hại cho đất nước mình. Sau đó người chiến binh sẽ chấp nhận hy sinh nếu không thoát được dù thành công hay thất bại.Người chiến binh thực hiện mặt trận nầy phải là người thông minh, gan dạ, biết ứng phó tùy tình huống và xem cái chết nhẹ như lông hồng.

25/1/14

THAM LUẬN : KỸ THUẬT SOẠN THẢO THÔNG BÁO, VIẾT TỜ TRÌNH ,VÀ GHI BIÊN BẢN MỘT BUỔI HỌP

THAM LUẬN:
KỸ THUẬT  SOẠN THẢO THÔNG BÁO, VIẾT TỜ TRÌNH  VÀ GHI BIÊN BẢN MỘT BUỔI HỌP.

HUY THANH

A- SOẠN THẢO THÔNG BÁO HAY THÔNG CÁO:

1- Thông báo hay Thông Cáo là gì:

Thông cáo hay Thông Báo một văn bản ngắn, viết bằng văn xuôi có mục đích truyền đạt nội dung cho mọi người cùng biết, hoặc để thi hành về một vấn đề nào đó liên quan đến đơn vị phát hành văn bản .Thông báo chỉ có giá trị thông tin, hướng dẫn, để biết hay định hướng chung một vấn đề chứ nó không có không có giá trị thay thế được những văn bản pháp qui, hay luật pháp.

22/1/14

THAM LUẬN: MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NHỮNG NHÀ THƠ CẬN ĐẠI ĐƯỢC PHỔ NHẠC

THAM LUẬN:

MỘT SỐ BÀI THƠ CỦA NHỮNG NHÀ THƠ CẬN ĐẠI ĐƯỢC PHỔ NHẠC

HUY THANH 





Thơ và nhạc là hai hình thức của nghệ thuật dùng để chuyển tải những hoài cảm, tâm cảm đến người thưởng thức. Hai hình thức đó luôn bổ khuyết, nâng cánh cho nhau, để cùng tạo sự thanh thoát ,rung cảm dạt dào cho người nghe. Nói một cách khác Thơ đã có trong nhạc và Nhạc đã có trong Thơ. Hôm nay tội kính gởi đến quý vị và các bạn một số bài Thơ hay được các nhạc sĩ phổ nhạc, được phổ biến rộng rãi trong quần chúng ở VN cũng như hải ngoại.Trong các bài Thơ được phổ nhạc, vì lý do nầy hay lý do khác, nhạc sĩ đôi khi cải cách một số lời bài hát để phù hợp với âm luật, hay chỉ chọn một đoạn nào đó để phổ nhạc những bài thơ quá dài để bảo đảm cho luật cân phương âm nhạc về trường canh được bảo toàn. Những bài thơ tôi chọn giới thiệu, nếu dài quá tôi cũng xin mạn phép tác giả thu gọn lại vài khổ, tuy nhiên ý thơ vẫn bảo toàn , để người nghe nhạc được thưởng thức, vừa nhạc trong Thơ, vừa nắm vững tâm ý, hồn thơ toàn diện của bài thơ đăng lại. Mặt khác bài Thơ sẽ bổ sung cho những tâm ý, hồn thơ mà trong nhạc còn thiếu sót (bởi bị bó buộc của âm luật).Có những bài Thơ dù dài nhưng tôi vẫn lấy toàn bài vi nó là bài Thơ hay, ngược lai những bài Thơ khác tôi bỏ qua vài đoạn không cần thiết .
Một số những bài thơ hay được phổ nhạc tôi đã giới thiệu trong những Entry trước đây như : Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng ( Phạm đình Chương ) , Hoa trắng thôi cài trên áo tím của Kiên Giang (Huỳnh Anh), Tha la xóm đạo của Vũ Anh Khanh ( Dzũng Chinh, Mầu tím hoa sim của Hữu Loan (Phạm Duy) Quê Hương của Phan lạc Tuyên (Đan Thọ, Quê Hương của Giang Nam (Phạm Trọng).. tôi mạn phép không lập lại trong Entry nầy.
Như thường lệ, quý vị, các bạn muốn nghe những bài nhạc nầy xin vào Google, gõ tên bài nhạc để nghe.
Những tác phẩm tôi liệt kê sau đây chỉ một phần trong rất nhiều bài Thơ được phổ Nhạc mà tôi đã nghe nhiều lần sau khi chọn lựa rất kỹ theo quan điểm cá nhân của mình (cũng có thể một số bạn cũng không tán đồng):


20/1/14

THAM LUẬN: THỬ NHÌN LẠI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO NHẠC NGOẠI QUỐC VIẾT LỜI VIỆT DU NHẬP VÀO NỀN ÂM NHẠC VIỆT NAM TỪ NHỮNG THẬP NIÊN CỦA THẾ KỶ 19

THAM LUẬN :

THỬ NHÌN LẠI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO NHẠC NGOẠI QUỐC VIẾT LỜI 
VIỆT DU NHẬP VÀO NỀN ÂM NHẠC VIỆT NAM TỪ NHỮNG THẬP NIÊN CỦA THẾ KỶ 19 
HUY THANH


1- SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT DU NHẬP VÀO VIỆT NAM :TỪ THẾ KỶ 19 :

Có thể nói Phong trào Nhạc Ngoại Quốc viết lời Việt du nhập vào Việt Nam cùng một lúc với trào lưu văn hóa nghệ thuật Âu Tây phát triển tại nước ta vào những thập niên giữa thế kỷ  19 ( 1950-1975 ) .Trên lãnh vực âm nhạc những bài hát nước ngoài nầy cũng ào ạt chiếm lĩnh sự thưởng ngọan của quần chúng yêu nghệ thuật Việt Nam như một thứ thức ăn mới thay đổi khẩu vị của những bài nhạc viết theo khuôn sáo cũ.

Theo tôi, sự du nhập dòng nhạc ngoại nầy lúc đó có hai dòng chảy song song: thứ nhất là dòng chảy nhạc cổ điển (classique), thứ hai là dòng chảy nhạc hiện đại (modern)

Dòng chảy nhạc cổ điển rất âm thầm du nhập bằng các bản nhạc kinh điển ,thính phòng, những khúc giao hưởng Âu Tây của các nhạc sĩ cổ như Mozart, Betthoven, Strauss, Chopin, Brahms Dòng chảy nhạc hiện đại thì rất đa dạng, vừa có nhạc tình êm dịu, nhạc trung dịu, vừa có nhạc sôi động với lối trình diễn nhún nhẩy kiểu Âu Châu mà thời đó người ta gọi là nhạc kích động hay nhạc TWIST. Cổ vũ rầm rộ cho phong trào nhạc kích động trong thập niên 70 là các nhạc sĩ Trường Kỳ, Khánh Băng, Lê hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Tùng Giang, Nam Lộc. Họ vừa sáng tác theo mô típ Nhạc Trẻ, vừa viết hay dịch lời Việt các bài nhạc ngoại quốc hay.Về ca sĩ trình diễn các loại nhạc kích động nầy thì rất ít nhưng người nào cũng được nhiều khán giả ái mộ như Hùng Cường, Mai lệ Huyền, Túy Phượng, Elvis Phương.

13/1/14

THAM LUẬN: LÊ VĂN KHÔI VÀ CUỘC BINH BIẾN THÀNH BÁT QUÁI NĂM 1833

THAM LUẬN:
LÊ VĂN KHÔI VÀ CUỘC BINH BIẾN THÀNH BÁT QUÁI NĂM 1833
 HUY THANH





1-LỜI MỞ ĐẦU:
Trong lịch sử, không ít những vị vua khi mới lập nghiệp thường nhờ những tướng giỏi hy sinh giúp mình xây dựng giang sơn xã tắc. Nhưng khi lên ngôi vua rồi, tạo dựng được thế lực, quyền uy, ngai vàng vững chắc thì đâm ra lại sợ những vị công thần đó chiếm đoạt ngôi báu của mình hay làm giảm đi oai thế của mình. Do đó ,họ  tìm cách hãm hại công khai hoặc ngấm ngầm những người đã sát cánh cùng minh trong những ngày gian khổ. Một trong những ông vua đó là Minh Mạng với sự trả thù tả quân Lê văn Duyệt sau khi ông chết. Chỉ vì sợ quyền lực của mình bị lung lay bởi vị quan tài giỏi ,đầy công lao nầy. Điều đáng trách là Minh Mạng không dám trả thù công khai khi tả quân Lê văn Duyệt khi còn sống mà trút hết thù hận vào hậu duệ của ông là con nuôi Lê văn Khôi nên xảy ra cuộc binh biến thành Bát Quái (thành Phiên An)  năm 1833, là thành mà Tả quân Lê văn Duyệt cho xây tám cửa như một trận đồ bát quái để giữ an ninh trật tự tại Gia Đinh khi ông còn phụ trách vùng phía Nam trên cương vị Tổng Trấn Gia Định thành. Cuộc trả thù nầy chỉ vì lòng ích kỷ  nhỏ nhen của vua Minh Mạng mà biết bao người vô tội phải chết oan, xương ngập xương, máu ngập máu trong đó có nhiều người Trung Hoa và các giáo sĩ người Pháp, binh sĩ hai bên tham chiến suốt ba năm trời (từ năm 1833 đến năm 1835 giữa binh lính Lê văn Khôi và triều đình).

10/1/14

THAM LUẬN : VÀI SUY NGHĨ KHI ĐỌC TRUYỆN NGẮN " DƯỚI BÓNG HOÀNG LAN " CỦA THẠCH LAM


HUY THANH


1- VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ NHÀ VĂN THẠCH LAM:

Nhà văn Thạch Lam (1910- 1942) tên thật là Nguyễn tường Vinh sinh ngày 7/7/1910 tại Hội An tỉnh Quảng Nam, ông là em của nhà văn Nhất Linh ( Nguyễn tường Tam) và Hoàng Đạo ( Nguyễn tường Long ). Vì muốn thi sớm bằng Thành Chung nên ông khai tăng thêm tuổi và thay đổi tên lại là Nguyễn tường Lân Sau khi đỗ bằng Thành Chung ông ra Hà Nội học trường Albert Saraut là trường dành cho những con nhà giàu học, ông đỗ bằng Tú Tài phần thứ nhất rồi nghĩ học làm báo cùng với hai anh trong nhóm "Tự Lực Văn Đòan "là Nhất Linh, Hòang Đạo. Ông có chân trong Biên Tập hai tờ báo Phong Hoá và Ngày nay do nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ biên. Ông khởi đầu viết văn từ năm 1931, sau đó mất năm 1942 vì bệnh lao, bỏ sự nghiệp văn chương dang dở nửa chừng. Tuy sống thời gian ngắn nhưng Thạch Lam đã đề lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm hay ,một lối hành văn cá biệt, một khuynh hướng sáng tác đi sâu vào những con người cùng khổ, một lối tả chân hiện thực phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.

Những sáng tác truyện ngắn  của nhà văn Thạch Lam:

Nhà Mẹ Lê, Dưới Bóng Hoàng Lan, Nắng Trong Vườn, Gió Lạnh Đầu Mùa, Hai Lần Chết, Bóng Người Xưa, Một Cơn Giận, Đứa Con Đầu Lòng Những Ngày Mới, Cô Hàng Xén, Tình Xưa, Buổi Sớm, Tiếng Sáo,  Người Bạn Trẻ, Cô Áo Lụa Hồng, Bắt Ðầu 

29/10/13

THAM LUẬN: VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI THƠ VỊNH ÔNG TIẾN SĨ GIẤY CỦA NGUYỄN KHUYẾN

 THAM LUẬN: VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI THƠ VỊNH ÔNG TIẾN SĨ GIẤY CỦA NGUYỄN KHUYẾN

XEM INTERNET GIÙM BẠN 
VÀI SUY NGHĨ VỀ BÀI THƠ VỊNH ÔNG TIẾN SĨ GIẤY CỦA NGUYỄN KHUYẾN

HUY THANH  CHỌN BÀI


23/10/13

BÌNH LUẬN :VÀI CẢM NGHĨ BÀI THƠ ĐƯA EM VÀO ĐỘNG HOA VÀNG CỦA PHẠM THIÊN THƯ

THAM LUÂN:
VÀI CẢM NGHĨ BÀI THƠ ĐƯA EM VÀO ĐỘNG HOA VÀNG
CỦA NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ



HUY THANH

1- LỜI MỞ ĐẦU VỀ NHÀ THƠ PHẠM THIÊN THƯ: 
Phạm thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long sinh ngày 1/1/1940 tại Hải Phòng trong một gia đình làm nghề bốc thuốc Đông Y.  Năm 1954, ông theo gia đình vào Nam .Khi còn học Trung Học, ông học trường Trung Học Văn Lang Saigòn, tại đây ông  phải lòng một nữ sinh người miền Bắc tên là Hoàng thị Ngọ nên có bài Thơ nổi tiếng Ngày Xưa Hoàng Thị ra đời (bà Hoàng Thị Ngọ hiện nay ở Mỹ). Sau khi đậu bằng Tú Tài,  ông theo học trường  Phật Học Vạn Hạnh. Sau đó ông đi tu theo đạo Phật rồi lại hoàn  tục. Năm 1964 đến năm 1973 ông là tu sĩ Phật Giáo  (với pháp danh Thích tuệ Không ) thường làm thơ đạo và đời. Năm 1973 ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm  HẬU TRUYỆN KIỀU ĐOẠN TRƯỞNG VÔ THANH

Đây có thể coi là hậu truyện Kiều của Việt Nam gồm 3.254 câu phá kỷ lục dài hơn Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du  chừng 254 câu  (Truyện Kiều của Nguyễn Du khoảng trên dưới 3.000 câu) mà hay không thua kém gì Truyện Kiều cuả Tố Như Tiên Sinh  trước đây. Từ năm 1973 - 2000 ông nghiên cứu thành công môn dưỡng sinh điện công PHATHATA  (Pháp - Tâm - Thân) có tính chất thiền phối hợp với võ thuật  phổ biên rộng rãi và có nhiều đệ tử theo học. Ông từng mở quán cà phê Hoa Vàng ở Cư Xá Bắc Hải SaìGòn để làm nơi tụ tập giao lưu các thi hữu bốn phương.  Ông viết rất nhiều Thơ, các bài thơ của ông đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như Em lễ Chùa nầy, Nửa Hồn Thương Đau, Đưa em vào động hoa Vàng ...  Bài thơ Đưa Em Vào Động Hoa Vàng có thể nói là một trường thi lục bát tuyệt vời của ông với tứ thơ nửa đạo, nửa đời. Do ông đã từng đi tu nên Thơ ông như là rao giảng Kinh bằng Thơ  như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, ông cũng đã dịch nhiều Kinh Phật bằng Thơ phồ biến rộng rãi trong giới ni tăng.
Theo tôi nhà thơ Phạm Thiên Thư là một tu sĩ nhưng không thực hóa được cõi đạo mà mênh mang trong lãng mạn cõi đời. Do vậy ông đã đi tu một thời gian rồi hoàn tục để làm thơ tình, .Nhưng có điều tôi tâm phục  nhất ông là rất có tâm huyết với nền văn học V N  nói chung và với văn thơ nói riêng. Ông luôn tìm cho mình một hướng đi mới về tư duy, sáng tạo ngôn ngữ thơ, khai phá những gì mới để sáng tác  (những tác phẩm  viết từ tự điển cười của ông đã nói lên điều đó), có thể nói Phạm Thiên Thư đã tạo ra được một hướng sáng tác riêng của mình.  
Ông đã sử dụng loại thơ lục bát  một cách nhuần nhuyễn, kết hợp giữa câu cú, vần điệu, hình ảnh thực mà ảo một cách tuyệt vời như hình với bóng mà bóng cũng không thể xa hình.
Vì là một bài Thơ dài, nên tôi kính mong quý độc giả đừng đọc lướt qua hay nóng vội mà hãy đọc từ đoạn để chiêm nghiệm bài thơ, thú thật trước khi viết Entry  nầy, tôi đã đọc đi, đọc lại bài thơ nầy kỹ càng trên dưới chừng hai mươi lần để hiểu được cái tâm của bài Thơ nầy.

21/10/13

THAM KHẢO: VỤ ÁN LỆ CHI VIÊN : OAN KHUẤT CÔNG THẦN TRONG TRANH GIÀNH NGÔI BÁU

THAM KHẢO

VỤ ÁN LỆ CHI VIÊN OAN KHUẤT CÔNG THẦN 
NẠN NHÂN TRONG TRANH GIÀNH NGÔI BÁU

HUY THANH


Trong lịch sử  nước ta đời Hậu Lê đã  xảy ra một vu  Án Oan chấn động nhân dân thời bấy giờ, và cả cho đến hôm nay.  Mỗi khi đọc lại lịch sử, người hậu thế chúng ta cũng không tránh khỏi ngậm ngùi thương tiếc cho một khai quốc công thần là nạn nhận của một cuộc tranh giành ngôi  báu đến nỗi phải bị tru di tam tộc, máu chảy đầu rơi, chết trong oan khuất: đó là quan khai quốc công thần đời Hậu Lê  Hành Khẩn Lại Bộ Thượng Thư Nguyễn Trãi.
Ta thử xem lại vụ án nầy thế nào mà làm chấn động nhân dân lúc đó đến thế, câu chuyện xoay quanh giữa hai nhân vật chánh là Hành khẩn Lại Bộ Thương Thư Nguyễn Trãi và bà vợ thứ ba của ông là Lễ Nghi Học Sĩ  Nguyễn Thị Lộ. Về tiểu sử Nguyễn Trãi thì nhiều sách đã viết, ở đây tôi chỉ lược khảo lại vài nét tiểu sử của hai nhân vật để chúng ta có những khái niệm về thân thế sự nghiệp của hai người trong  vụ án nầy.

14/10/13

THAM LUẬN THÀNH CÁT TƯ HÃN CON SƯ TỬ CỦA VÙNG THẢO NGUYÊN THẾ KỶ XII-XIII

THAM LUẬN: 

THÀNH CÁT TƯ HÃN CON SƯ TỬ CỦA VÙNG THẢO NGUYÊN THẾ KỶ  XII-XIII 

HUY THANH 
(TỔNG HỢP, VIẾT NHẬN ĐỊNH, VIẾT BÌNH LUẬN TỪ NHIỀU TÀI LIỆU TRÊN INTERNET)

1-TIỂU SỬ, CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP THÀNH CÁT TƯ HÃN:
1.1- TIỂU SỬ :


Thành Cát Tư Hãn  tên gọi Thiết Mộc Chân  sinh năm 1162, mất năm 1227, là người lập ra Đế quốc Mông Cổ  sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á vào năm 1206. Ông được người Mông Cổ coi như là một vị lãnh đạo  mang lại sự ổn định về chính trị, kinh tế cho khu vực Á-Âu. Cháu nội của ông  sau này,là Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại nhà Nguyên của Trung Hoa. Nhiều nhân vật nổi tiếng là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, những kẻ đi xâm chiếm nhiều đất đai về tay mình như Timur Lenk, kẻ chinh phục dân Thổ Nhĩ Kỳ, Babur, người sáng lập ra đế quốc Mogul trong lịch sử Ấn Độ.
Thời thơ ấu của Thiết Mộc Chân rất nghèo khổ, khi ông lên 9 tuổi, cha ông đã đưa ông đến gia đình vợ tương lai là Bột Nhi Thiếp. Ông phải sống ở đó cho đến khi đủ tuổi lấy vợ là 12 tuổi. Sau đó cha ông bị đầu độc bởi bộ lạc Tháp Tháp Nhi  trên đường trở về nhà ,Thiết Mộc Chân sau đó đã trở thành thủ lĩnh của bộ lạc mình .Trong những năm sau đó, ông và gia đình sống một cuộc đời du cư nghèo khó, sống được là nhờ các loài động vật gặm nhấm. Trong một lần đi săn bắn như vậy ông đã giết chết người anh/em cùng cha khác mẹ là Bekhter trong một cuộc tranh giành chiến lợi phẩm, năm 1182, ông đã bị những người cùng bộ lạc cũ bắt trong một cuộc tập kích và bị giam cầm với gông trên cổ. Sau đó ông trốn thoát với sự trợ giúp của những người coi ngục có cảm tình. Mẹ ông đã dạy ông nhiều bài học sống sót trong những điều kiện thời tiết khắc nghiệt của Mông Cổ tới sự cần thiết của liên minh với những bộ tộc  khác.

8/10/13

THAM LUẬN: TÌM HIỂU THẾ NÀO LÀ ĐẠO LÃO GÍÁO

THAM LUẬN:

THẾ NÀO LÀ ĐẠO LÃO GÍAO?

HUY THANH
 

 A -NGUỒN GỐC CỦA ĐẠO LÃO GIÁO:

Đạo Lão Giáo ra đời vào thời kỳ Xuân Thu trong lịch sử Trung Hoa, thời kỳ nầy xảy ra từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Thời kỳ nầy diễn ra suốt ba trăm năm lọan lạc chiến tranh, các nước tranh đấu giành đất đai, mở rộng bờ cõi, gây chiến tranh liên tục khắp nơi. Sự chết chóc, đau khổ bao trùm lên đời sống con người khiến họ sống trong nỗi sợ hãi lo âu thường xuyên, Từ đó, những tư tưỡng bi quan về cuộc sống hình thành, phân hoá nhiều lớp người , họ nhận định về cuộc sống rất khác nhau. Một số ngươi coi đó là định mệnh phải chấp nhận. Một số người khác lại cho là cuộc sống cần phải có yếm thế,để rút kinh nghiện vươn lên. Một số người khác thì lại coi con người sinh ra để tự tử khi cần phải phẩn uất, phản kháng xã hội. Mặt khác sự thành bại của nhiều nước đã khiến luân lý bị đảo lộn, nước thắng tận diệt đạo đức nước thua trận, do đó quan điểm xã hội thay đổi rất mau chóng.
Học thuyết đạo Lão Tử ra đời trong giai đoạn nầy đã giúp mọi người nhìn được cái chân lý của cuộc sống , nó hướng thượng con người vui sống, lạc quan dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Người đề xướng ra học thuyết nầy là Lão Tử, về sau Trang Tử là người đi sâu vào học thuyết hơn, và bổ sung nhiều điều bổ ích khác .